Theo VCCI, khu vực DN tư nhân tiếp tục mở rộng nhanh về số lượng, từ khoảng 811 nghìn DN hoạt động năm 2020 lên hơn 1 triệu vào năm 2025, chiếm tới 96,6% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động và tạo việc làm cho khoảng 9,27 triệu lao động. Tuy nhiên, sự gia tăng số lượng không đồng nghĩa với sức khỏe được cải thiện, khi vẫn có khoảng 35,8 nghìn doanh nghiệp giải thể, tăng 66,9%, và 112,7 nghìn DN tạm ngừng hoạt động.
Đặc trưng bao trùm vẫn là tình trạng “đông nhưng nhỏ”: Gần 70% DN ngoài nhà nước có vốn dưới 10 tỷ đồng, 81,4% sử dụng dưới 10 lao động, vốn bình quân chỉ khoảng 49,2 tỷ đồng, thấp xa so với mức 496 tỷ đồng của DN FDI và 7.030,9 tỷ đồng của DN nhà nước. Hiệu quả sinh lời thấp và phân bố không đồng đều, với tỷ suất lợi nhuận chỉ khoảng 1,4% năm 2023 và mật độ DN chênh lệch rõ rệt giữa các đô thị lớn như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội với nhiều tỉnh miền núi. Năng lực đổi mới sáng tạo, công nghệ và quản trị còn ở mức thấp khi so sánh khu vực…
Về môi trường kinh doanh, khó khăn lớn nhất đã dịch chuyển mạnh sang phía thị trường đầu ra, khi tỷ lệ DN gặp khó khăn tìm kiếm khách hàng tăng vọt từ 45,3% lên 60,2%, tương đương giai đoạn căng thẳng nhất của thời kỳ đại dịch, kéo theo tâm lý phòng thủ chiếm ưu thế với 54,8% DN dự kiến giữ nguyên quy mô. Tiếp cận vốn tiếp tục là “điểm nghẽn” mang tính cấu trúc: 75,5% DN không thể vay vốn nếu thiếu tài sản bảo đảm và tới 93,5% khoản vay yêu cầu thế chấp - cao hơn đáng kể so với Malaysia và Thái Lan. Khả năng dự đoán chính sách còn rất hạn chế khi chỉ 6% đến 8% DN tự tin dự báo được thay đổi, trong khi chi phí không chính thức vẫn là gánh nặng đáng kể, đặc biệt ở các khâu xin giấy phép xây dựng, nhập khẩu và làm việc với cơ quan thuế.
Trong các phản ánh VCCI tiếp nhận từ DN trong những tháng đầu năm 2026, có tới 51,4% liên quan đến các quy định chưa rõ ràng hoặc thiếu tính khả thi; 36,7% phản ánh quy định làm gia tăng chi phí tuân thủ; và 11,8% liên quan đến tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo. Các vướng mắc tập trung ở thời gian thực hiện thủ tục kéo dài, sự chồng chéo thẩm quyền giữa các cơ quan, mẫu biểu không rõ ràng và những “khoảng trống” pháp lý trong các lĩnh vực cạnh tranh, dược, hóa chất, lao động, thủy sản.
Khảo sát cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách giữa quy định và thực tiễn thực thi: 25% DN phản ánh quy trình giải quyết thủ tục không đúng như niêm yết; 33,33% cho biết thời gian xử lý bị kéo dài; 38,18% vẫn phải chi trả chi phí không chính thức; và 24,04% buộc phải hủy bỏ hoặc trì hoãn kế hoạch kinh doanh. Việc vận hành Chính phủ số còn nhiều thách thức về thực hiện thủ tục điện tử chưa triệt để, liên thông dữ liệu chưa toàn diện, hạ tầng chưa bảo đảm và năng lực, trách nhiệm của cán bộ thực thi còn hạn chế.
Trên tinh thần đó, VCCI đề xuất tăng cường phối hợp với Ủy ban thông qua việc thiết lập kênh tiếp nhận các kết quả điều tra, khảo sát, nghiên cứu do VCCI thực hiện nhằm cung cấp cơ sở thực tiễn cho công tác xây dựng, thẩm tra chính sách; đẩy mạnh tham vấn cộng đồng DN đối với các dự án luật về kinh tế, DN, thuế và tài chính. Đồng thời, VCCI kiến nghị quy định bắt buộc tham vấn VCCI trong quá trình xây dựng các đạo luật về kinh tế nhằm bảo đảm tính khách quan, toàn diện và khắc phục tình trạng lấy ý kiến chưa đầy đủ từ các đối tượng chịu tác động.
“Từ thực tiễn lắng nghe DN, chúng tôi cảm nhận rất rõ ba kỳ vọng. Thứ nhất, DN mong muốn các đạo luật có tính ổn định và khả năng dự báo cao, bởi không gì làm xói mòn niềm tin đầu tư bằng một khung pháp lý thay đổi liên tục và khó lường. Thứ hai, DN mong muốn hệ thống pháp luật thống nhất, rõ ràng, hạn chế tối đa tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo khiến cả người thực thi và người tuân thủ đều lúng túng. Thứ ba, DN mong muốn khoảng cách giữa quy định và thực thi được thu hẹp, bởi một chính sách dù tốt trên giấy nhưng vướng ở khâu thực thi thì vẫn chưa thực sự đến được với DN”, PGS.TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI chia sẻ và bày tỏ kỳ vọng.


