Bạn Nguyễn Văn An (Hà Nội) hỏi: Năm 2022, tôi và vợ kết hôn. Trong thời gian chung sống, chúng tôi cùng nhau xây dựng một kênh TikTok và một Fanpage Facebook chuyên về sáng tạo nội dung giải trí. Toàn bộ email đăng ký, tài khoản ngân hàng liên kết để nhận tiền quảng cáo và thông tin định danh (VNeID) của kênh đều đứng tên tôi. Đến nay, hệ thống kênh này đã đạt hơn 2 triệu người theo dõi, mang lại nguồn thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi tháng từ quảng cáo và livestream bán hàng.
Hiện tại, vợ chồng tôi đang làm thủ tục ly hôn. Vợ tôi yêu cầu phải chia đôi quyền quản trị kênh hoặc bắt tôi phải thối lại một khoản tiền tương đương 50% giá trị định giá của kênh (khoảng 1 tỷ đồng). Tuy nhiên, tôi cho rằng kênh này định danh bằng thông tin cá nhân của tôi, do tôi quản lý nên thuộc sở hữu riêng của tôi. Xin hỏi luật sư, theo quy định pháp luật hiện hành, kênh mạng xã hội này có được coi là tài sản chung vợ chồng để phân chia khi ly hôn không? Việc giải quyết tranh chấp này như thế nào?
Luật sư Chu Quỳnh Vương - Đoàn Luật sư TP Hà Nội tư vấn: Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình, tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng.
Mặc dù Bộ luật Dân sự hiện tại chưa có quy định tách biệt rõ ràng về khái niệm “tài sản ảo” hay “tài sản số”, nhưng kênh mạng xã hội có 2 triệu lượt theo dõi của vợ chồng bạn đang tạo ra dòng tiền thực tế và có giá trị kinh tế thương mại rất lớn. Việc kênh này được xây dựng, phát triển hoàn toàn trong thời kỳ hôn nhân bằng công sức, trí tuệ của cả hai vợ chồng thì về nguyên tắc, đây là một dạng “quyền tài sản” và cấu thành tài sản chung của vợ chồng.
Việc bạn lập luận kênh đăng ký bằng email và thông tin định danh cá nhân của bạn nên bạn cho rằng đây là tài sản riêng của bạn là chưa phù hợp với quy định pháp luật.
Thông tin định danh (như căn cước công dân, VNeID gắn với tài khoản mạng xã hội) chỉ là thủ tục hành chính, kỹ thuật để xác thực người chịu trách nhiệm quản lý vận hành trước nhà nước và nền tảng. Nó không làm thay đổi bản chất quyền sở hữu tài sản được hình thành từ công sức chung của cả hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Do kênh mạng xã hội là một tài sản đặc thù, không thể chia tách nên việc phân chia sẽ được ưu tiên giải quyết theo các hướng sau:
Phương án 1: Thỏa thuận phân chia. Hai bên có thể tự thỏa thuận giá trị của hệ thống kênh. Một bên tiếp tục sở hữu, quản trị kênh và có nghĩa vụ thanh toán bằng tiền lại cho bên kia phần giá trị tương ứng (như vợ bạn đang đề xuất).
Phương án 2: Tòa án phân chia dựa trên công sức đóng góp. Nếu không thỏa thuận được và phải yêu cầu Tòa án giải quyết, Tòa án sẽ xem xét đến công sức đóng góp của mỗi bên (ai là người sáng tạo nội dung chính, ai quản lý kỹ thuật, ai đối ngoại...). Bên nhận kênh sẽ phải thối lại giá trị bằng tiền cho bên còn lại sau khi có kết quả định giá từ tổ chức thẩm định giá độc lập đối với các tài sản số.
Phương án 3: Chia nhỏ nguồn thu nhập. Hai bên có thể ký kết hợp đồng hợp tác sau ly hôn, tiếp tục cùng vận hành kênh và phân chia nguồn thu nhập phát sinh từ kênh theo tỷ lệ thỏa thuận.
Tóm lại, yêu cầu đòi chia giá trị kênh mạng xã hội của vợ bạn là có cơ sở pháp lý. Bạn nên chủ động thương lượng để tìm ra giải pháp tối ưu, tránh việc tranh chấp kéo dài làm ảnh hưởng đến hoạt động vận hành và giảm sút lượng tương tác của kênh.


