Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Doanh nghiệp Việt và “bài toán” về hiệu quả sử dụng vốn

Áp lực chi phí vốn khiến doanh nghiệp quan tâm hơn đến hiệu quả sử dụng vốn, từ quản lý công nợ, tồn kho đến lựa chọn thời điểm đầu tư. Thay vì chỉ tìm thêm nguồn vay, doanh nghiệp tăng cường kiểm soát dòng tiền, hạn chế tình trạng vốn chậm quay vòng và phân bổ nguồn lực theo tiến độ thực tế của hoạt động kinh doanh.

Tối ưu dòng tiền, giảm sức ép vốn vay

Với doanh nghiệp sản xuất, áp lực vốn không chỉ đến từ các khoản đầu tư dài hạn mà còn phát sinh trong quá trình thực hiện từng đơn hàng, dự án. Chi phí nguyên vật liệu, linh kiện, nhân công và sản xuất thường phát sinh trước, trong khi dòng tiền từ khách hàng chỉ được thu về theo tiến độ giao hàng, nghiệm thu và thanh toán. Khoảng thời gian từ lúc doanh nghiệp bỏ vốn đến khi thu hồi tiền càng kéo dài, nhu cầu vốn để duy trì hoạt động sản xuất càng lớn.

Theo ông Phạm Văn Hùng - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thang máy Hoàng Sa Việt, khi đánh giá một hợp đồng, doanh nghiệp không chỉ xem xét doanh thu và lợi nhuận mà còn phải tính đến tốc độ quay vòng vốn. Một hợp đồng có quy mô lớn nhưng thời gian thu tiền kéo dài, trong khi biên lợi nhuận không đủ bù đắp chi phí vốn, có thể không đem lại hiệu quả như kỳ vọng.

Ông Phạm Văn Hùng - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thang máy Hoàng Sa Việt. (Ảnh: NVCC)
Ông Phạm Văn Hùng - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thang máy Hoàng Sa Việt. (Ảnh: NVCC)

Ông Hùng cho biết, tại Hoàng Sa Việt, dòng tiền được theo dõi theo từng hợp đồng, từ thời điểm thanh toán cho nhà cung cấp, chi phí sản xuất đến các khoản phải thu từ khách hàng. Tiến độ thanh toán được tính toán ngay từ khi triển khai, trong đó khoản ứng trước của khách hàng có thể được sử dụng để đáp ứng một phần đáng kể chi phí nguyên vật liệu ban đầu.

Bên cạnh đó, khoản phải thu cũng được doanh nghiệp theo dõi sát sao. Khi tiền bán hàng chưa về, vốn vẫn nằm ở phía khách hàng, tốc độ quay vòng vốn chậm lại và doanh nghiệp có thể phải tìm thêm nguồn tài trợ cho hoạt động thường xuyên. Do đó, kiểm soát công nợ không chỉ là khâu thu hồi tiền mà còn gắn trực tiếp với khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp.

Ở khâu tồn kho, doanh nghiệp hạn chế đưa vốn vào những nguyên vật liệu chưa cần sử dụng. Một số linh kiện, bộ phận dùng chung cho nhiều dòng sản phẩm được tiêu chuẩn hóa; các linh kiện có giá trị lớn được đặt mua theo tiến độ hợp đồng và kế hoạch sản xuất, thay vì nhập về quá sớm. Doanh nghiệp cũng đàm phán với nhà cung cấp về thời hạn thanh toán để tận dụng nguồn tín dụng thương mại.

Ngoài ra, các khoản chi khác cũng được cân nhắc, từ chi phí cố định đến hoạt động quảng bá và vận hành của từng bộ phận. “Mục tiêu là hạn chế những khoản chi chưa thực sự cần thiết, giúp giảm nhu cầu bổ sung vốn ngắn hạn, thay vì cắt giảm chi phí một cách cơ học” - ông Hùng nói thêm.

Trong khi đó, với doanh nghiệp công nghệ, sức ép dòng tiền chủ yếu đến từ các khoản chi cho phát triển sản phẩm, nhân sự kỹ thuật, hạ tầng và quá trình đưa sản phẩm ra thị trường. Ông Phạm Hồng Nguyên - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Kết nối Công nghệ số Việt Nam (VICONNECT) cho biết, trong giai đoạn phát triển sản phẩm, doanh nghiệp phải chi trước cho phần mềm, nhân sự kỹ thuật, hạ tầng cũng như các hoạt động thương mại, trong khi doanh thu chỉ hình thành dần khi sản phẩm hoặc dự án được đưa ra thị trường.

Với đặc thù này, VICONNECT không phân bổ toàn bộ ngân sách ngay từ đầu mà chia nguồn lực theo từng giai đoạn phát triển, thử nghiệm và thương mại hóa. Theo ông Nguyên, sản phẩm được hoàn thiện ở mức cần thiết, đưa vào thử nghiệm với khách hàng hoặc đối tác, sau đó mới mở rộng khi có thêm dữ liệu về nhu cầu thị trường.

Việc phân bổ nguồn lực cũng gắn với theo dõi doanh thu, chi phí và dòng tiền theo từng sản phẩm, từng dự án. Các quyết định tuyển thêm nhân sự, đầu tư tài sản hay triển khai đồng thời nhiều dự án đều được cân nhắc theo nguồn lực thực tế, hạn chế tình trạng mở rộng hoạt động trước khi xác định được khả năng cân đối vốn.

Đầu tư chọn lọc, ưu tiên khả năng tạo dòng tiền

Kiểm soát dòng tiền không có nghĩa là thu hẹp đầu tư, mà đặt ra yêu cầu lựa chọn kỹ hơn về quy mô, tiến độ và nguồn vốn. Doanh nghiệp có thể chia nhỏ thời điểm giải ngân và cân đối nguồn vốn theo từng khoản đầu tư, thay vì tập trung nhu cầu vốn vào cùng một thời điểm.

Theo ông Phạm Văn Hùng, doanh nghiệp phải thận trọng hơn với những khoản đầu tư có nhu cầu vốn lớn và thời gian thu hồi dài. Việc triển khai nên được cân nhắc theo khả năng tiêu thụ, tiến độ sử dụng vốn và nguồn tiền có thể bố trí, phù hợp với khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp.

Ông Phạm Hồng Nguyên - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Kết nối Công nghệ số Việt Nam (VICONNECT). (Ảnh: NVCC)
Ông Phạm Hồng Nguyên - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Kết nối Công nghệ số Việt Nam (VICONNECT). (Ảnh: NVCC)

Từ thực tế triển khai, Hoàng Sa Việt đã xây dựng kế hoạch đầu tư nhà máy thứ hai tại xã Ân Thi, tỉnh Hưng Yên theo từng giai đoạn, gắn với sản lượng và nhu cầu thị trường. Ông Hùng cho rằng, việc chia nhỏ tiến độ đầu tư giúp doanh nghiệp bố trí nguồn tiền theo từng giai đoạn, thay vì phải giải ngân tập trung ngay từ đầu. Các bước tiếp theo được xem xét dựa trên nhu cầu sản xuất, khả năng cân đối vốn và diễn biến thị trường, từ đó điều chỉnh quy mô đầu tư phù hợp với khả năng tiêu thụ và dòng tiền thực tế. Cách phân bổ này cũng giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc lựa chọn nguồn vốn, phù hợp với thời gian thu hồi của khoản đầu tư và tránh sử dụng vốn ngắn hạn cho những tài sản có thời gian khai thác dài như nhà xưởng, máy móc.

Đối với VICONNECT, việc phân bổ nguồn lực cũng được thực hiện theo từng giai đoạn phát triển sản phẩm. Ông Phạm Hồng Nguyên cho hay, doanh nghiệp vẫn duy trì đầu tư cho công nghệ nhưng không triển khai đồng thời tất cả các hướng, mà tập trung vào những sản phẩm có thể đưa ra thử nghiệm để đánh giá nhu cầu thị trường. Những khoản đầu tư chưa xác định rõ khách hàng hoặc đầu ra được cân nhắc lùi lại. Với các dự án cần thiết bị hoặc nhân sự chuyên biệt, doanh nghiệp có thể hợp tác với đơn vị bên ngoài thay vì tự đầu tư toàn bộ.

Nguồn tài trợ cũng được cân nhắc theo thời hạn và mục đích sử dụng. Vốn chủ sở hữu và lợi nhuận giữ lại được ưu tiên cho quá trình phát triển sản phẩm hoặc các khoản đầu tư dài hạn, trong khi vốn vay chỉ được xem xét khi nhu cầu sử dụng vốn, kế hoạch trả nợ và nguồn thu tương đối rõ.

Theo ông Nguyên, ngoài tín dụng ngân hàng, doanh nghiệp còn có thể sử dụng khoản ứng trước của khách hàng, tín dụng thương mại từ nhà cung cấp hoặc nguồn lực từ đối tác. Với những dự án cần thêm vốn, hợp tác đầu tư là một phương án để chia sẻ nhu cầu tài chính và rủi ro thay vì doanh nghiệp phải tự đảm nhận toàn bộ.

Ông Nguyên nhấn mạnh, khi nguồn thu chưa ổn định, việc sử dụng vốn cần gắn với mục tiêu và thời gian thu hồi cụ thể. Đây cũng là cơ sở để doanh nghiệp cân nhắc quy mô đầu tư, thay vì mở rộng cùng lúc nhiều sản phẩm hoặc dự án.

Chi phí vốn vì thế không chỉ là “bài toán” huy động nguồn lực, mà còn là “bài toán” về hiệu quả sử dụng vốn. Kiểm soát dòng tiền, rút ngắn thời gian vốn quay vòng và lựa chọn nguồn vốn phù hợp giúp doanh nghiệp hạn chế sức ép tài chính, đồng thời duy trì dư địa cho các kế hoạch kinh doanh tiếp theo.

Vân Hương - Đoàn Chi
Tác giả: Vân Hương - Đoàn Chi

Tin xem nhiều