Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Xây dựng hệ thống học liệu số quốc gia miễn phí cho học sinh, giáo viên trên cả nước

Theo Đề án “Hệ thống học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông” vừa được phê duyệt, học sinh, giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trên cả nước được bảo đảm tiếp cận nguồn học liệu số chất lượng cao, chuẩn hóa và miễn phí. Đối với học liệu công khai, miễn phí, người dùng không bắt buộc phải đăng nhập để khai thác, sử dụng.

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1965/QĐ-TTg ngày 12/10/2026 phê duyệt Đề án “Hệ thống học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông”.

Theo Đề án, Hệ thống học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông (Hệ thống) là hạ tầng học liệu số dùng chung phục vụ giáo dục phổ thông, được Nhà nước quản lý thống nhất, bảo đảm tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, kiến trúc số ngành giáo dục và các quy định pháp luật có liên quan.

Hệ thống được thiết kế theo hướng mở, liên thông, lấy dữ liệu làm trung tâm; ưu tiên kế thừa, kết nối, khai thác các hạ tầng, nền tảng, dịch vụ và thành phần dùng chung của quốc gia. Quyền tác giả, quyền liên quan đối với học liệu do các tổ chức, cá nhân tạo lập được tôn trọng, bảo hộ theo quy định của pháp luật.

Hướng tới phục vụ 100% cơ sở giáo dục phổ thông trên toàn quốc

Một trong những nội dung được Đề án xác định là bảo đảm công bằng trong tiếp cận nguồn học liệu số chất lượng cao, chuẩn hóa và miễn phí cho mọi học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục trên cả nước. Trong đó, ưu tiên nguồn lực, hạ tầng, thiết bị và giải pháp truy cập cho học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, học sinh khuyết tật.

Đề án đặt mục tiêu xây dựng Hệ thống đồng bộ, hiện đại, liên thông và dùng chung, phục vụ đổi mới giáo dục phổ thông, bảo đảm học sinh, giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục được tiếp cận, khai thác học liệu số có chất lượng, phù hợp với nhu cầu dạy và học.

Về hạ tầng, Cổng học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông được xây dựng, vận hành ổn định, an toàn, đáp ứng yêu cầu khai thác, sử dụng tại 100% cơ sở giáo dục phổ thông trên phạm vi toàn quốc theo quy mô và yêu cầu kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Về học liệu, Đề án đặt mục tiêu hoàn thành bộ học liệu lõi quốc gia đối với các môn học, cấp học theo Chương trình giáo dục phổ thông, ưu tiên học liệu tương tác đa phương tiện, mô phỏng thực tế và thí nghiệm ảo. Giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và học sinh được bồi dưỡng năng lực số theo lộ trình, bảo đảm đáp ứng yêu cầu khai thác, sử dụng và đóng góp học liệu số.

Đáng chú ý, Hệ thống được kết nối với ứng dụng định danh quốc gia VNeID và các phương thức xác thực phù hợp khác để phục vụ xác thực người dùng. Tuy nhiên, Đề án yêu cầu bảo đảm học sinh không bị hạn chế quyền tiếp cận học liệu do chưa có tài khoản định danh điện tử. Đối với học liệu công khai, miễn phí, không bắt buộc đăng nhập.

Danh mục và dữ liệu học liệu số đã được chuẩn hóa được kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu, nền tảng dữ liệu quốc gia có liên quan, trong đó có Cơ sở dữ liệu quốc gia về trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực giáo dục nhằm phục vụ phát triển, huấn luyện các mô hình trí tuệ nhân tạo trong giáo dục.

Đề án cũng đặt mục tiêu hoàn thiện các văn bản, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy định về định danh, thẩm định, bản quyền, quản lý, chia sẻ và khai thác học liệu số; vận hành hiệu quả cơ chế bản quyền, chính sách khuyến khích đóng góp và cơ chế phối hợp liên ngành. Hệ thống phải bảo đảm an toàn thông tin theo cấp độ phù hợp, tuân thủ pháp luật về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

Phát triển học liệu tương tác, thí nghiệm ảo và ứng dụng trí tuệ nhân tạo

Theo Đề án, Hệ thống học liệu số quốc gia gồm 5 thành phần chủ yếu: Cổng học liệu số; Kho học liệu số quốc gia; Nền tảng quản lý và khai thác học liệu số; Hệ thống dữ liệu và các dịch vụ kết nối, chia sẻ; hạ tầng kỹ thuật bảo đảm vận hành Hệ thống.

Hệ thống là thành phần của Nền tảng số giáo dục quốc gia, được kết nối, liên thông với Nền tảng giáo dục thông minh quốc gia thuộc Danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia. Các thành phần được thiết kế theo kiến trúc mở, bảo đảm khả năng tích hợp, liên thông và kế thừa các hệ thống, nền tảng, cơ sở dữ liệu hiện có, hạn chế đầu tư trùng lặp. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng mô hình quản lý, vận hành và yêu cầu kỹ thuật cụ thể của Hệ thống, tổ chức thực hiện theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành.

Để triển khai, Đề án xác định 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, trong đó có hoàn thiện thể chế, chính sách, tiêu chuẩn kỹ thuật và khung bản quyền học liệu số; phát triển hạ tầng số, nền tảng công nghệ dùng chung; xây dựng học liệu lõi quốc gia; ứng dụng trí tuệ nhân tạo; bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân; đào tạo, bồi dưỡng năng lực số; phối hợp liên ngành, liên thông dữ liệu và bảo đảm nguồn lực thực hiện.

Trong phát triển hạ tầng, Cổng học liệu số được xây dựng, vận hành trên nhiều nền tảng, gồm web và ứng dụng di động, hỗ trợ truy cập băng thông thấp và chế độ ưu tiên cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Hạ tầng, nền tảng, dữ liệu và dịch vụ số được phát triển trên nền điện toán đám mây, có trung tâm dữ liệu dự phòng, mạng phân phối nội dung và hệ thống giám sát 24/7.

Đối với học liệu lõi quốc gia, Đề án quy định đặt hàng biên soạn, số hóa bằng ngân sách nhà nước theo mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh của Chương trình giáo dục phổ thông. Nội dung ưu tiên gồm học liệu tương tác đa phương tiện, mô phỏng thực tế, thí nghiệm ảo và nội dung đặc thù.

Cùng với nguồn học liệu được Nhà nước đặt hàng, Đề án xác định việc huy động học liệu xã hội hóa từ các nhà xuất bản, doanh nghiệp công nghệ giáo dục và cộng đồng giáo viên thông qua chức năng đóng góp học liệu trên Cổng học liệu số. Đồng thời, xây dựng quy trình tiếp nhận, thẩm định, phê duyệt, cập nhật, chỉnh sửa, tạm dừng hoặc gỡ bỏ học liệu, có ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong những khâu phù hợp.

Đối với trí tuệ nhân tạo (AI), Đề án định hướng ứng dụng công nghệ này để hỗ trợ quản lý, phân loại, tìm kiếm, đề xuất và khai thác học liệu số. Việc ứng dụng AI phải bảo đảm sự giám sát, kiểm soát và chịu trách nhiệm của con người đối với các quyết định thuộc thẩm quyền, đồng thời bảo đảm khả năng kiểm tra, truy xuất và xử lý khiếu nại theo quy định pháp luật.

Các chức năng AI thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về trí tuệ nhân tạo phải thực hiện đầy đủ yêu cầu về quản lý rủi ro, minh bạch, giám sát của con người và các yêu cầu khác theo quy định.

Không thu phí học liệu lõi quốc gia, không gắn quyền tiếp cận với việc mua sản phẩm khác

Về bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân, Đề án yêu cầu thiết kế kiến trúc bảo mật nhiều lớp, quản lý định danh, xác thực và phân quyền truy cập tập trung; mã hóa dữ liệu lưu trữ và truyền tải, giám sát an ninh mạng 24/7.

Đối với dữ liệu cá nhân của học sinh là trẻ em, người chưa thành niên, việc xử lý phải tuân thủ các quy định riêng của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Dữ liệu cá nhân phải được ẩn danh hóa trước khi phân tích, tổng hợp; đồng thời thực hiện kiểm tra, kiểm thử, đánh giá và kiểm toán an toàn thông tin theo yêu cầu, cấp độ và quy định của pháp luật.

Đề án cũng yêu cầu xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành khung năng lực số; tổ chức tập huấn cốt cán và bồi dưỡng đại trà cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục theo lộ trình, tích hợp kỹ năng số vào đào tạo sinh viên sư phạm. Cùng với đó là triển khai mạng lưới giáo viên tiên phong, cộng đồng thực hành số, cơ chế thi đua, ghi nhận và đo lường việc áp dụng thực tế; ưu tiên hỗ trợ thiết bị, đường truyền cho giáo viên, học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Về nguồn lực thực hiện, Đề án quy định bố trí kinh phí theo nguyên tắc tách bạch vốn đầu tư công dành cho xây dựng hạ tầng, nền tảng cốt lõi và kinh phí chi thường xuyên phục vụ vận hành, thuê dịch vụ điện toán đám mây, bảo đảm an toàn thông tin, thẩm định và cập nhật học liệu. Kinh phí chi thường xuyên được bố trí trong dự toán ngân sách hằng năm theo quy định pháp luật, phù hợp với nhiệm vụ được phê duyệt và khả năng cân đối ngân sách nhà nước.

Đồng thời, đẩy mạnh xã hội hóa, hợp tác công - tư trên nguyên tắc bảo đảm cạnh tranh, công khai, minh bạch. Đặc biệt, Đề án yêu cầu không thu phí đối với học liệu lõi quốc gia; không gắn quyền tiếp cận học liệu lõi với việc mua sản phẩm, dịch vụ khác; không tạo độc quyền nền tảng và không gây bất bình đẳng trong tiếp cận.

Thanh Hà

Tin xem nhiều