Tỷ lệ thương tích trong giám định pháp y là một trong những yếu tố then chốt trong hoạt động tố tụng hình sự cho các vụ án cố ý gây thương tích, tai nạn lao động, tai nạn giao thông… thậm chí cả với các vụ án có hành vi nguy hiểm như giết người. Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 xác lập các yêu cầu cốt lõi trong hoạt động giám định: tuân thủ pháp luật, quy trình và quy chuẩn chuyên môn; trung thực, chính xác, khách quan, kịp thời; độc lập khi đưa ra kết luận; chỉ kết luận trong phạm vi nội dung được trưng cầu, yêu cầu và chịu trách nhiệm về kết luận của mình.
Không để niềm tin vào kết luận giám định bị lung lay
Tại Trung tâm Pháp y Hà Nội, năm 2025 đã thực hiện một ca giám định thương tích. Nạn nhân bị một người dùng tay tát vào vùng đầu mặt bên phải. Không gây ra vết bầm tím, không có vết thương. Tuy nhiên, nạn nhân khẳng định sau khi bị đánh nạn nhân luôn đau đầu và mất thính lực tai bên phải hoàn toàn. Kết quả khám chuyên khoa Tai - Mũi - Họng, đo thính lực, làm điện thế kích thích thị giác, đo ABR… đều khẳng định nạn nhân bị điếc hoàn toàn tai phải nhưng không có kèm theo các tổn thương thực thể của hệ thống tai ngoài, tai giữa, tai trong, cũng như không có tổn thương nội sọ, sọ não.
Các giám định viên nhận thấy việc cho điểm điếc hoàn toàn tai phải do vụ việc tát vào vùng đầu mặt phải gây ra là thiếu căn cứ khoa học. Do đó, Trung tâm Pháp y Hà Nội đã tiến hành trao đổi, xin ý kiến các chuyên gia và yêu cầu nạn nhân làm thêm xét nghiệm chụp MRI sọ não - mạch não. Kết quả chụp cho thấy nạn nhân có sự xung đột mạch máu và dây thần kinh số VIII. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến kết quả đo thính lực, nhĩ lượng tai phải cho kết quả điếc hoàn toàn. Tuy nhiên, đây là một bất thường bẩm sinh không phải do chấn thương trong vụ việc này gây ra. Do đó, với trường hợp này, Trung tâm đã không xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với điếc hoàn toàn tai phải do vụ việc gây thương tích.
Phân tích về ca giám giám định trên, bà Nguyễn Thị Ngọc Yến, Giám đốc Trung tâm Pháp y Hà Nội cho biết, cần tách biệt ba tầng vấn đề: biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán y khoa và quan hệ nhân quả pháp y. Kết quả đo cho thấy mất chức năng thính giác là dữ liệu cần được tôn trọng, nhưng dữ liệu đó mới chứng minh tình trạng điếc tại thời điểm kiểm tra, chưa tự thân chứng minh nguyên nhân là cú tát. Muốn quy kết hậu quả cho vụ việc phải chứng minh sự phù hợp về giải phẫu, cơ chế, thời gian và diễn biến, đồng thời loại trừ hợp lý nguyên nhân có sẵn hoặc nguyên nhân độc lập.
Vì vậy, quyết định không xác định tỷ lệ % tổn thương cơ thể đối với tình trạng điếc tai phải trong vụ việc này không có nghĩa phủ nhận triệu chứng hay khó khăn thực tế của người được giám định. Đó là việc không gán một hậu quả pháp lý cho hành vi khi mối liên hệ logic chưa có đủ bằng chứng khoa học. Cách tiếp cận này đồng thời bảo vệ quyền lợi của người bị hại, quyền của người bị buộc tội và tính liêm chính của hoạt động giám định.
“Những vụ việc như thế này không phải hiếm xảy ra tại Trung tâm Pháp y Hà Nội, với tinh thần nghiêm túc, trung thực, khách quan trong công việc, mọi kết luận của chúng tôi phải được xác định khi và chỉ khi có đủ căn cứ khoa học, bằng chứng khách quan như vậy mới hạn chế tối đa các sai sót chuyên môn có thể gặp phải. Sở dĩ như vậy vì quan hệ logic, bằng chứng khoa học là trung tâm của giám định thương tích trong giám định pháp y”, bà Nguyễn Thị Ngọc Yến nhấn mạnh.

Theo bà Yến, về cơ sở lý luận, một kết luận giám định thương tích đầy đủ phải trả lời tối thiểu năm nhóm câu hỏi: Thứ nhất, có tổn thương hoặc rối loạn chức năng thực sự hay không; Thứ hai, mức độ, tính ổn định và hậu quả chức năng của tổn thương; Thứ ba, tổn thương xuất hiện vào thời điểm nào; Thứ tư, cơ chế hình thành tổn thương có phù hợp với tác động được mô tả trong vụ việc hay không; Thứ năm, có nguyên nhân khác như tổn thương cũ, bệnh lý nền, bất thường bẩm sinh hoặc một sự kiện xen kẽ hay không.
Trình tự này giúp phân biệt hai mệnh đề thường bị đánh đồng: một triệu chứng xuất hiện sau sự việc không có nghĩa rằng triệu chứng đó chắc chắn do sự việc gây ra. Và để hạn chế tranh chấp, mỗi kết luận giám định nên trả lời rõ: tổn thương nào được xác định; căn cứ nào chứng minh tổn thương; tổn thương nào liên quan hoặc không liên quan đến sự việc; tỷ lệ được lựa chọn trong khung dựa trên yếu tố nào; còn nội dung nào chưa đủ điều kiện kết luận; và có cần giám định bổ sung, theo dõi diễn biến hoặc đánh giá lại sau điều trị hay không. Một bản kết luận minh bạch về cả căn cứ lẫn giới hạn sẽ có giá trị thuyết phục cao hơn một con số đứng riêng lẻ.
Ý kiến chuyên gia không thay thế trách nhiệm của giám định viên và tổ chức giám định
Việc đánh giá cần dựa trên sự hội tụ của nhiều lớp chứng cứ: lời khai và bệnh sử; dấu hiệu khám trực tiếp; hồ sơ cấp cứu, điều trị; hình ảnh, xét nghiệm và thăm dò chức năng; diễn biến theo thời gian; sự phù hợp giữa vị trí, tính chất tổn thương với cơ chế tác động; cùng kết quả loại trừ các nguyên nhân cạnh tranh. Khi các lớp thông tin mâu thuẫn, giám định viên phải giải thích sự mâu thuẫn, đề nghị bổ sung tài liệu, thực hiện lại phép đo khi cần thiết hoặc xin ý kiến chuyên gia, thay vì lựa chọn dữ liệu thuận tiện để đi đến một tỷ lệ định sẵn. Vì thế, việc phải sử dụng các kiến thức chuyên sâu của rất nhiều lĩnh vực trong giám định pháp y là không thể thiếu, trong y tế phải phối hợp rất nhiều chuyên khoa.
“Ở Trung tâm Pháp y Hà Nội, việc đội ngũ các chuyên gia hàng đầu hỗ trợ công tác giám định là vô cùng cần thiết và quan trọng. Hầu hết các bản kết luận giám định chúng tôi phải thực hiện nghiên cứu rất kỹ các tài liệu y khoa có liên quan hoặc thực hiện việc hội chẩn, xin ý kiến chuyên gia, ví dụ như hội chẩn đa chuyên khoa đặc biệt có ý nghĩa đối với các tổn thương thần kinh, tai - mũi - họng, mắt, tâm thần, răng - hàm - mặt hoặc các di chứng phức tạp. Ngoài ra, cũng phải thực hiện thêm nhiều biện pháp kỹ thuật để đánh giá di chứng, biến chứng các tổn thương và đặc biệt để loại trừ các vấn đề có thể gây sai lệch kết quả như đã nói ở trên.
Tuy nhiên, ý kiến chuyên gia là căn cứ hỗ trợ chứ không thay thế trách nhiệm của giám định viên và tổ chức giám định. Bản kết luận cuối cùng cần thể hiện rõ tài liệu đã sử dụng, phương pháp đã tiến hành, kết quả khách quan, lập luận về quan hệ nhân quả, tỷ lệ được áp dụng và những giới hạn chuyên môn còn tồn tại. Khả năng kiểm tra lại đường đi từ dữ liệu đến kết luận chính là một điều kiện quan trọng tạo dựng niềm tin.
“Trong khoa học pháp y, “chưa đủ căn cứ kết luận” không phải là né tránh trách nhiệm mà có thể là kết luận trung thực nhất khi dữ liệu chưa đạt ngưỡng chứng minh cần thiết. Giám định viên không có nhiệm vụ làm cho tỷ lệ cao hơn để bảo vệ người bị hại, cũng không có nhiệm vụ làm cho tỷ lệ thấp hơn để giảm trách nhiệm cho người bị buộc tội. Nhiệm vụ duy nhất là xác định đúng phần tổn hại có căn cứ, nêu rõ phần chưa thể xác định và lý do khoa học của giới hạn đó.
Như vậy, công bằng không nằm ở một con số cao hay thấp, mà nằm ở việc con số đó phản ánh trung thực hậu quả đã được chứng minh, được hình thành từ một quy trình có thể kiểm tra, giải thích và chịu trách nhiệm.
Thực tế, chúng tôi gặp nhiều trường hợp cố tình che giấu tổn thương cũ, bệnh lý cũ… để làm sai lệch kết quả giám định. Việc đưa ra các bản kết luận bảo đảm tính khách quan, chính xác là rất quan trọng, vì khi niềm tin vào kết luận giám định bị lung lay, hệ quả không chỉ dừng lại ở một vụ án mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống tư pháp”, bà Yến cho biết.
(Trung tâm Pháp y Hà Nội phối hợp thực hiện)



