Đề xuất đáng xem xét về thời gian làm việc
Tại Hội thảo đánh giá 5 năm thực hiện Bộ luật Lao động (BLLĐ) do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức mới đây tại Hà Nội, đại diện Hội Khoa học kỹ thuật An toàn vệ sinh lao động (KHKTATVSLĐ) nêu ý kiến cần điều chỉnh giảm thời giờ làm việc bình thường; lộ trình từ 48 giờ xuống 44 giờ và tiến tới 40 giờ/tuần, phù hợp xu hướng quốc tế và điều kiện phát triển của Việt Nam. Lộ trình này cần quy định rõ trong luật chứ không phải mang tính khuyến khích, nhằm bảo vệ an toàn sức khỏe lao động, nhất là khu vực thâm dụng.
Từ năm 1999, công chức, viên chức nhà nước làm việc 40 giờ/tuần, trong khi khối DN giữ nguyên 48 tiếng sau nhiều lần sửa đổi BLLĐ. Luật hiện hành quy định lao động làm việc trong điều kiện bình thường không quá 8 giờ/ngày, 48 giờ/tuần. DN có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động (NLĐ) biết; nếu quy định giờ làm việc theo tuần thì không quá 10 giờ/ngày và 48 giờ/tuần. Nhà nước khuyến khích DN thực hiện tuần làm việc 40 giờ với NLĐ.
Luật khống chế làm thêm không quá 40 giờ/tháng, không quá 200 giờ/năm. Khung làm thêm tối đa 300 giờ/năm được mở rộng cho một số ngành nghề, như sản xuất gia công xuất khẩu hàng dệt may, da giày, chế biến nông, lâm, thủy sản, sản xuất và cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu, cấp thoát nước, diêm nghiệp, điện, điện tử…
Đại diện Hội KHKTATVSLĐ đánh giá giờ làm việc bình thường vẫn ở mức cao. Khảo sát một số khu công nghiệp cho thấy NLĐ chấp nhận làm việc nhiều giờ vì thu nhập, song giảm sức khỏe rõ rệt và ít thời gian cho gia đình. Luật quy định thời gian làm thêm trên nguyên tắc tự nguyện, nhưng bị cho là vẫn mang tính hình thức vì NLĐ khó có lựa chọn nào khác nếu muốn giữ việc và tăng thu nhập. Đặc biệt những tháng cuối năm là cao điểm đơn hàng, DN thường bố trí làm thêm giờ liên tục trong nhiều tuần khiến NLĐ rơi vào tình trạng mệt mỏi kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ tai nạn và tranh chấp lao động tập thể.
Một nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động và Xã hội cho thấy, trong các ngành thâm dụng, tai nạn lao động thường xảy ra nhiều hơn vào cuối ca làm hoặc cao điểm tăng ca, khi NLĐ mệt mỏi, giảm tập trung. Người thường xuyên làm thêm 40 - 50 giờ/mỗi tháng có tỷ lệ mắc các triệu chứng mệt mỏi mãn tính, đau đầu, giảm tập trung cao hơn đáng kể so với nhóm không làm thêm hoặc làm thêm ít. Đây là một trong những yếu tố làm gia tăng nguy cơ xảy ra tai nạn lao động.
Quan điểm nêu trên là rất đáng được lắng nghe, xem xét, vì thời đại hiện đại hóa, sử dụng trí tuệ nhân tạo, muốn thúc đẩy năng suất lao động thì các DN cần song song đầu tư máy móc công nghệ hiện đại bên cạnh thủ công; chứ không nên chỉ phụ thuộc giờ làm. Đất nước cũng đã đạt nhiều thành tựu kinh tế, nên thời gian làm việc của NLĐ ở khu vực tư cũng cần được rút ngắn. Và khi sửa đổi BLLĐ, cũng cần phải xác định rõ thời gian làm việc, nghỉ ngơi là quyền lợi của NLĐ chứ không phải là phúc lợi.









